Bỏ qua Lệnh Ruy-băng Bỏ qua nội dung chính
Danh bạ
Hình ảnh liên kết
Liên kết website trong tỉnh
Liên kết website các tỉnh
Lượt truy cập

 

 Nội dung tin

 
NGHIÊN CỨU BỔ SUNG DINH DƯỠNG CHO RAU CẦN NƯỚC (Oenanthe javanica (Blume) DC.) BẰNG MỘT SỐ CHẾ PHẨM DINH DƯỠNG HỮU CƠ QUA LÁ   25-04-2023
RESEARCH FOR NUTRITIONAL SUPPLEMENTATION FOR WATER DROPWORT (Oenanthe javanica (Blume) DC.) WITH SOME ORGANIC NUTRITIONAL SPRAY ON LEAF Thuộc đề tài: Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật sản xuất Rau cần nước đạt chuẩn VietGAP tại xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Chủ nhiệm đề tài: Lê Thị Chung và Vũ Mạnh Hà - Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông nghiệp bền vững

Can nuoc 3.jpg
Thí nghiệm nghiên cứu bổ sung dinh dưỡng cho rau cần nước bằng một số chế phẩm dinh dưỡng hữu cơ qua lá.
TÓM TẮT

            Rau cần nước là một loại rau thủy sinh được sử dụng phổ biến ở Việt Nam từ rất lâu, ăn ngon, được nhiều người ưa chuộng. Phân bón nói chung và phân bón lá nói riêng là một yếu quan trọng giúp rau cần nước tăng năng suất và chất lượng. Để xác định chế phẩm dinh dưỡng hữu cơ qua lá phù hợp với sản xuất rau cần nước ở xã Gia Kiệm, chúng tối đã tiến hành thí nghiệm 1 yếu tố theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) gồm 3 nghiệm thức gồm phân bón lá hữu cơ sinh học EcoNereo Kelp; phân bón lá hữu cơ Kelpit và phân bón lá Grow 8-3-4 (nhà vườn dùng phổ biến) được thực hiện trong 3 vụ (từ tháng 7/2020 đến tháng 12/2021) tại hộ ông Phạm Đức Khẩn (ấp Tây Nam, xã Gia Kiệm). Kết quả thí nghiệm cho thấy bổ sung dinh dưỡng qua lá khác nhau cho rau cần nước ảnh hưởng có ý nghĩa đến sinh tường, năng suất và hiệu quả kinh tế. Sử dụng phân bón lá hữu cơ Kelpit cho kết quả tốt nhất với chiều cao cây trung bình là 87,42cm  (thời điểm thu hoạch), số nhánh/bụi trung bình là 11,33 nhánh/bụi, năng suất trung bình là 5.415 kg/1.000m2/vụ, lợi nhuận trung bình là 24.484.000 đ/1.000m2/vụ.

Từ khóa: Phân bón lá, rau cần nước.

ABSTRACT

Water dropwort is an aquatic vegetable that has been used for a long time in Vietnam, delicious and popular with many people. Fertilizers in general and foliar fertilizers in particular are important factors that help water dropwort increase yield and quality. To determine the suitable organic foliar fertilizer for water dropwort production in Gia Kiem commune, we conducted a one-factor experiment in a completely randomized block format (RCBD) consisting of 3 treatments (experimental treatment: The 1st organic foliar fertilizer EcoNereo Kelp; treatment 2 Organic foliar fertilizer Kelpit and treatment 3 foliar fertilizer Grow 8-3-4 (used by gardeners)) was carried out for 3 crops (from July 2020 to December 2021 at the vegetable field of Mr. Pham Duc Khan's household (Gia Kiem commune). Experimental results showed that the addition of different foliar nutrients to water dropwort had a significant effect on growth, yield and economic efficiency. Using Kelpit foliar fertilizer gave the best results with an average tree height of 87.42cm (at the time of harvest), an average number of branches/dust of 11.33 branches/bush, an average yield of 5,415 kg/1,000 m2/crop, average profit is 24,484,000 VND/1,000 m2/crop.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Rau cần nước (Oenanthe javanica (Blume) DC.) là một loại rau thủy sinh được sử dụng phổ biến ở Việt Nam từ rất lâu, ăn ngon, được nhiều người ưa chuộng. Rau cần nước có giá trị dinh dưỡng cao, chứa nhiều vitamin, chất khoáng và có thể dùng để chữa nhiều loại bệnh như cao huyết áp, mạch máu xơ cứng, thần kinh suy nhược (Đỗ Huy Bích và ctv, 2006). Phía Bắc, rau cần nước được trồng từ lâu đời các tỉnh đồng bằng Sông Hồng và trung du Bắc bộ như Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ (Đỗ Huy Bích và ctv, 2006). Ở phía Nam, rau cần nước cũng được trồng ở các tỉnh như Đồng Nai, Kiên Giang, Bạc Liêu (Phạm Thị Minh Tâm và ctv, 2015).

Phân bón là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất và chất lượng của rau cần nước. Trong quá trình sinh trưởng, phát triển, rau cần nước lấy đi một lượng dinh dưỡng nhất định từ đất. Cây càng lớn thì nhu cầu dinh dưỡng càng nhiều. Để bổ sung lượng dinh dưỡng mà cây rau cần nước đã lấy cần có chế độ bón phân hợp lý. Theo Phạm Thị Minh Tâm và ctv (2015) khuyến cáo: Lượng phân bón cho rau cần cho 1000 m2/vụ như sau: Phân hữu cơ vi sinh: 500 kg; NPK 20:20:15: 119 kg; Urea: 36,55 kg; phân lân 62,5 kg, kali 7,5 kg. Theo Nguyễn Hoàng Mỹ (2014) điều tra hiện trạng sản xuất rau cần nước tại Gia Kiệm cho thấy nhà vườn sử dụng 100% phân vô cơ và lượng phân bón cho ruộng rau cần nước cao hơn nhiều so với khuyến cáo. Các loại phân vô cơ như NPK 30-10-10, NPK 15-30-15, NPK 16-16-8, DAP 18-46-0 được bón 2 lần/tuần, lượng bón trung bình 5 kg/1.000m2/lần bón. Phân bón lá được phun thường xuyên để kích thích sinh trưởng cũng trở thành thói quen trong canh tác rau cần nước ở Gia Kiệm bởi khi phun phân bón lá cho rau cần nước thì cây rau có bộ lá xanh bóng, sinh trưởng nhanh. Ngay cả khi ruộng rau cần nước sinh trưởng tốt thì nhà vườn vẫn phun phân bón lá kết hợp với phun thuốc BVTV. Điều này làm cho cây sinh trưởng nhanh quá mức, thân cây yếu, dễ bị sâu bệnh gây hại, tăng chi phí sản xuất, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn thực phẩm, ảnh hưởng lâu dài đến môi trường và sức khỏe người sản xuất.

Để giải quyết vấn đề này, cần nghiên cứu biện pháp bổ sung chất dinh dưỡng cho rau cần nước bằng một số chế phẩm dinh dưỡng hữu cơ qua lá giúp cây phát triển cân đối, chống chịu được sâu bệnh hại và nâng cao chất lượng rau.

2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành 03 vụ (Trong đó: Vụ 1 từ tháng 7/2020 đến tháng 9/2020; Vụ 2 từ tháng 10/2020 đến tháng 12/2021; Vụ 3 từ tháng 10/2021 đến tháng 12/2021) tại ao rau cần nước của hộ ông Phạm Đức Khẩn (ấp Tây Nam, xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai).

2.2. Vật liệu thí nghiệm

- Giống rau: Giống rau cần nước của địa phương (xã Gia Kiệm). Nhân giống bằng cách rải nguyên cây rau cần nước lúc thu hoạch trên mặt ao đã rút nước (phương pháp nhân giống truyền thống của nhà vườn địa phương).

- Phân bón lá sử dụng trong thí nghiệm:

Bảng 1. Các loại phân bón lá sử dụng trong thí nghiệm

Stt

Tên thương mại

Thành phần

Nồng độ pha

Nhà sản xuất

1

Phân bón lá hữu cơ sinh học Eco - Nereo Kelp

Axit humic: 0,53%

(nguyên liệu từ tảo bẹ)

3 ml/ lít nước

Công ty Eco Nutrients (Mỹ)

2

Phân bón lá hữu cơ Kelpit

P2O5: 0,11%; K2O: 0,6%; Alginates: 0,5%; Auxins: 22,4 mg/L; Cytokinins: 2,8 mg/L; (nguyên liệu từ rong và tảo biển)

3 ml/ lít nước

Công ty Spraygro Liquid Fertillizers (Australia)

3

Phân bón lá Grow 8-3-4 (nhà vườn dùng phổ biến)

N: 80 g/L;

P2O5: 30 g/L;

K2O: 40 g/L

3 ml/ lít nước

Công ty cổ phần phân bón Ba Lá Xanh

2.3. Phương pháp thí nghiệm

- Thí nghiệm 1 yếu tố được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) gồm 3 nghiệm thức với 6 lần lặp lại. Diện tích ô thí nghiệm cơ sở 20 m2. Tổng diện tích thí nghiệm 360 m2, không bao gồm diện tích bảo vệ.

- Các nghiệm thức thí nghiệm:

+ Nghiệm thức 1: Phân bón lá hữu cơ sinh học Eco - Nereo Kelp.

+ Nghiệm thức 2: Phân bón lá hữu cơ Kelpit.

+ Nghiệm thức 3: Phân bón lá Grow 8-3-4.

- Sơ đồ bố trí thí nghiệm:

Bảo vệ

Bảo vệ

Bảo vệ

NT2

NT1

NT3

NT1

NT2

NT3

NT1

NT3

NT1

NT2

NT3

NT2

NT3

NT2

NT2

NT3

NT1

NT1

I

II

III

IV

V

VI

Bảo vệ

 

- Liều lượng sử dụng: Phun 1 lít dung dịch phân bón lá/lần/ô thí nghiệm (20m2). Phun 06 lần/vụ vào các thời điểm 10 NSR; 20NSR; 10NSC; 15NSC; 20NSC và 25NSC

2.4. Các chỉ tiêu theo dõi: Chiều cao cây; số nhánh/bụi; Năng suất thực thu (kg/1.000m2/vụ) và hiệu quả kinh tế.

2.5. Kỹ thuật trồng và chăm sóc: Nhân giống bằng cách rải nguyên cây lúc cây rau cần nước thu hoạch, sau đó cấy rau cần nước ở thời điểm 30 ngày sau rải giống, khi đó chiều cao cây rau cần nước khi cấy ở các nghiệm thức là 12 ± 1 cm, số nhánh/bụi là 5 ± 1 nhánh/bụi. Thời điểm thu hoạch là 60 ngày sau rải giống.

2.6. Xử lý số liệu: Tính toán số liệu, phân tích ANONVA và trắc nghiệm phân hạng bằng phần mềm SAS Can nuoc 2.jpg
Số nhánh/bụi ở 3 NT của thí nghiệm bổ sung dinh dưỡng qua lá

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Ảnh hưởng của phân bón lá đến chiều cao cây rau cần nước

Ở thời điểm thu hoạch (30 ngày sau cấy), chiều cao cây trung bình 3 vụ ở các nghiệm thức dao động từ 80,85 - 87,42cm, trong đó chiều cao cây trung bình 3 vụ ở nghiệm thức phun Kelpit (87,42cm) cao nhất có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức phun Eco-Nero Kelp (80,85cm) và nghiệm thức phun Grow 8-3-4 (82,96cm). Chiều cao cây trung bình 3 vụ ở nghiệm thức Grow 8-3-4 cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức phun Eco-Nero Kelp (bảng 2).

Bảng 2. Ảnh hưởng của phân bón lá đến chiều cao cây rau cần nước ở thời điểm thu hoạch (30 ngày sau cấy)

Nghiệm thức

Chiều cao cây rau cần nước (cm) ở thời điểm thu hoạch (30 ngày sau cấy)

Vụ 1

Vụ 2

Vụ 3

Trung bình

Eco-Nero Kelp

80,25c

80,80c

81,50b

80,85c

Kelpit

87,25a

87,18a

87,83a

87,42a

Grow 8-3-4 (đối chứng)

83,40b

83,30b

82,18b

82,96b

F tính

*

*

*

*

CV (%)

7,46

6,23

6,51

6,73

Ghi chú: Trong cùng một cột, các giá trị có cùng ký tự đi kèm khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức P < 0,05; *: Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức P < 0,05.

3.2. Ảnh hưởng của phân bón lá đến số nhánh/bụi rau cần nước

Bảng 3. Ảnh hưởng của phân bón lá đến số nhánh/bụi rau cần nước ở thời điểm thu hoạch (30 ngày sau cấy)

Nghiệm thức

Số nhánh/bụi rau cần nước ở thời điểm thu hoạch (30 ngày sau cấy)

Vụ 1

Vụ 2

Vụ 3

Trung bình

 

Eco-Nero Kelp

9,08b

8,50c

9,15c

8,91c

 

Kelpit

11,25a

11,25a

11,50a

11,33a

 

Grow 8-3-4 (đối chứng)

9,60b

9,60b

9,70b

9,63b

 

F tính

*

*

*

*

 

CV (%)

4,28

4,95

5,44

4,89

 

Ghi chú: Trong cùng một cột, các giá trị có cùng ký tự đi kèm khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức P < 0,05; *: Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức P < 0,05.

Can  nuoc 4.jpg


Ở thời điểm thu hoạch (30 ngày sau cấy), số nhánh/bụi trung bình 3 vụ ở các nghiệm thức dao động từ 8,91 - 11,33 nhánh/bụi, trong đó chiều cao cây trung bình 3 vụ ở nghiệm thức phun Kelpit (11,33 nhánh/bụi) cao nhất có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức phun Eco-Nero Kelp (8,91 nhánh/bụi) và nghiệm thức phun Grow 8-3-4 (9,63 nhánh/bụi). Số nhánh/bụi trung bình 3 vụ ở nghiệm thức Grow 8-3-4 cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức phun Eco-Nero Kelp (bảng 3).

3.3. Ảnh hưởng của phân bón lá đến năng suất rau cần nước

Bảng 4. Ảnh hưởng của phân bón lá đến năng suất rau cần nước

Nghiệm thức

Năng suất rau cần nước (kg/1.000m2)

Vụ 1

Vụ 2

Vụ 3

Trung bình

 

Eco-Nero Kelp

4.948c

4.858c

4.930c

4.912c

 

Kelpit

5.382a

5.329a

5.535a

5.415a

 

Grow 8-3-4 (đối chứng)

5.083b

5.057b

5.025b

5.055b

 

F tính

*

*

*

*

 

CV (%)

8,42

6,23

6,38

7,01

 

Ghi chú: Trong cùng một cột, các giá trị có cùng ký tự đi kèm khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức P < 0,05; *: Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức P < 0,05.

 

Năng suất rau cần nước trung bình 3 vụ ở các nghiệm thức dao động từ 4.912 - 5.415 kg/1.000m2/vụ, trong đó năng suất trung bình 3 vụ ở nghiệm thức phun Kelpit (5.415 kg/1.000m2/vụ) cao nhất có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức phun Eco-Nero Kelp (4.912 kg/1.000m2/vụ) và nghiệm thức phun Grow 8-3-4 (5.055 kg/1.000m2/vụ). Năng suất trung bình 3 vụ ở nghiệm thức Grow 8-3-4 cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức phun Eco-Nero Kelp (bảng 4).

3.4. Ảnh hưởng của phân bón lá đến hiệu quả kinh tế

Tổng chi phí cho diện tích thí nghiệm 1.000m2/vụ ở nghiệm thức phun Eco-Nero Kelp là 37.813.000đ cao hơn so với nghiệm thức phun Kelpit (37.790.000đ) và nghiệm thức phun Grow 8-3-4 (37.738.000đ) (bảng 5).

            Với giá bán bình quân rau cần nước là 11.500 đ/kg, thu nhập ở nghiệm thức phun Kelpit là cao nhất (62.274.000đ/1.000m2/vụ), tiếp đến là nghiệm thức phun Grow 8-3-4 (58.129.000đ/1.000m2/vụ) và thấp nhất là nghiệm thức phun Eco-Nero Kelp (56.484.000đ/1.000m2/vụ) (bảng 5).

Bảng 5. Hiệu quả kinh tế của các nghiệm thức phân bón lá

Tính cho 1.000m2/vụ

Nghiệm

thức

Chi phí thực hiện

thí nghiệm (1.000đ)

Sản lượng

và thu nhập

Đánh giá

hiệu quả kinh tế

Vật

TN

Chi phí sản xuất khác

Tổng

chi

(2+3)

Sản

lượng

(kg)

Thành

tiền

(1.000đ)

Lợi nhuận (1.000đ)

(6-4)

Tỷ suất

lợi nhuận

(lần) (7/4)

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

(6)

(7)

(8)

Eco-Nero Kelp

113

37.700

37.813

4.912

56.484

18.672

0,49

Kelpit

90

37.700

37.790

5.415

62.274

24.484

0,65

Grow 8-3-4 (đối chứng)

38

37.700

37.738

5.055

58.129

20.391

0,54

Ghi chú: Chi phí sản xuất khác: Hom giống: 9.000.000đ; Phân bón và thuốc BVTV: 9.200.000đ; Công lao động: 14.500.000đ; Chi khác (điện bơm nước, …): 5.000.000đ; Giá bán bình quân rau cần nước: 11.500đ/kg.

 

            Lợi nhuận cao nhất ở nghiệm thức phun Kelpit là 24.484.000đ/1.000m2/vụ, tiếp đến là nghiệm thức phun Grow 8-3-4 (20.391.000đ/1.000m2/vụ) và nghiệm thức phun Eco-Nero Kelp (18.672.000đ1.000m2/vụ) (bảng 5).

Tỷ suất lợi nhuận cao nhất ở nghiệm thức phun Kelpit là 0,65 lần, tiếp đến là nghiệm thức phun Grow 8-3-4 (0,54 lần) và thấp nhất là nghiệm thức phun Eco-Nero Kelp (0,49 lần) (bảng 5).

4. KẾT LUẬN

            Phun phân bón lá hữu cơ Kelpit (chiết xuất từ rong và tảo biển) cho rau cần nước ở Gia Kiệm cho cây sinh trưởng tốt nhất với chiều cao cây trung bình 87,42cm, số nhánh/bụi là 11,33 nhánh/bụi, năng suất trung bình 5.415 kg/1.000m2/vụ, lợi nhuận trung bình là 24.484.000đ/1.000m2/vụ và tỷ suất lợi nhuận là 0,65 lần.

            Tiếp đến là phun phân bón lá vô cơ Grow 8-3-4 và cho kết quả thấp nhất là phun phân bón lá hữu cơ Eco-Nero Kelp (chiết xuất từ tảo bẹ).

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguyễn Hoàng Mỹ, 2014. Điều tra hiện trạng sản xuất rau cần nước tại xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành nông học. Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh.

Phạm Thị Minh Tâm, Võ Thị Thu Oanh, Nguyễn Thị Thúy Liễu, 2015. Nghiên cứu quy trình sản xuất rau cần nước (Oenanthe javanica (Blume) DC.) an toàn tại huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, đề tài nghiên cứu khoa học tỉnh Bạc Liêu.

Phạm Thị Minh Tâm, Võ Thị Thu Oanh, Nguyễn Thị Thúy Liễu, 2015. Hiện trạng sản xuất rau cần nước tại xã Vĩnh Thanh và Vĩnh Phú Đông huyện Phước Long. Thông tin Khoa học và Công nghệ tỉnh Bạc Liêu, số 2/2015.

Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Thượng Dong, Đỗ Trung Đàm, 2006. Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập II, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.


 

In nội dung
Các tin đã đăng ngày
Chọn một ngày từ lịch.